* Nguyễn Văn Kỷ
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, những quan điểm khác nhau tấn công chủ nghĩa Mác - Lê nin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng cố tình lập luận rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa. Vậy thực chất của vấn đề này là gì? chúng ta cần phải xem xét và đánh giá một cách khoa học về địa vị lịch sử, từ đó thấy được xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản ngày nay.
1. Địa vị lịch sử của
chủ nghĩa tư bản ngày nay
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế - xã hội
phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai
và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác
lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau cách mạng
Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần
chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ
phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái chính trị - kinh tế - xã hội tư bản
chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới.
Trải qua hơn 500 năm CNTB đã có bốn lần thay đổi
lớn. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ nhất
nổ ra, chủ nghĩa tư bản nông nghiệp và thương nghiệp chuyển thành chủ nghĩa tư
bản công nghiệp và tự do cạnh tranh. Cuối thế kỷ thứ XIX, cuộc cách mạng khoa
học - kỹ thuật lần thứ hai xuất hiện, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển
thành chủ nghĩa tư bản độc quyền. Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào
những năm 30 của thế kỷ XX và rõ nhất là sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ
nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Bắt
đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ đã dẫn đến toàn cầu hóa kinh tế và chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia.
Cùng với sự phát triển của các công ty độc quyền
xuyến quốc gia và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, chủ nghĩa tư bản tổ chức
ra Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới và các thỏa thuận về thuế quan. Do
nhu cầu điều chỉnh quan hệ thương mại nên ngay từ năm 1948, các nước tư bản đã
tổ chức ra Hiệp định chung về thuế quan (GATT). Sau đó, do tiến trình khu vực
hóa được xúc tiến mạnh mẽ nên đã dẫn đến sự ra đời của các Cộng đồng kinh tế
châu Âu, Khu vực tự do Bắc Mỹ, Diễn đàn kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình
Dương . Tiếp đó, nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển nhanh và sự ra đời
của kinh tế tri thức đã làm nảy sinh nhiều mối quan hệ kinh tế thế giới, buộc
chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia phải mở rộng.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhưng ở nấc thang phát triển cao hơn, những biến đổi,
thích nghi của CNTB ngày nay chỉ là những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của
CNTB độc quyền. Bản chất kinh tế của CNTB ngày nay vẫn là sự thống trị của các
tổ chức độc quyền, bản chất chính trị là hiếu chiến, xâm lược và phản động.
2. Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản ngày
nay.
Để có thể nhận diện rõ xu hướng vận động của CNTB
ngày nay, cần phải phân tích những mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản
hiện tại.
Mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản xét dưới góc độ
kinh tế chính trị đó là do mâu thuẫn ngày càng sâu sắc cả về tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư
nhân về tư liệu đang dữ địa vị thống trị trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Biểu hiện lực lượng sản xuất đã phát triển đạt đến trình độ xã hội hoá cao,
trong khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời, lạc hậu. Đây là mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại, mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã
hội thành những mâu thuẫn chủ yếu sau:
Thứ
nhất, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê.
Mâu thuẫn này trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh biểu hiện giữa
một bên tư bản thì ngày càng giàu có, với một bên người lao động ngày càng bần
cùng. Ngày nay dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại, người lao động tuy có trình độ chuyên môn ngày càng cao, trong số
đó có người là giám đốc, tổng giám đốc. Nhưng vì họ không có tư liệu sản xuất,
nên họ vẫn phải bán sức lao động cho nhà tư bản và ở địa vị làm thuê cho nhà tư
bản. Tiền lương vẫn là nguồn thu nhập chủ yếu và cũng chỉ đủ sống một cuộc sống
đói khổ, họ vẫn bị bần cùng hoá tương đối và tuyệt đối. Trong khi đó các tổ
chức độc quyền ngày càng giầu có, ngày càng thu được lượng lợi nhuân kếch xù.
Theo tạp chí Povhes tính đến năm 1998 có 225 người giầu nhất thế giới có tổng
số vốn 1000 tỷ USD. Điều đó chứng tỏ chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là xã hội áp
bức bóc lột và bất công. Ngày nay mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê
được biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trên
phạm vi quốc tế, mâu thuẫn giữa chế độ tư bản chủ nghĩa với công bằng tiến bộ
xã hội và nền văn minh mà loài người đang hướng tới; mâu thuẫn giữa lợi ích các
tổ chức độc quyền với những lợi chung có tính chất sống còn của nhân loại.
Thứ
hai, mâu thuẫn giữa các
nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển.
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa
thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới, các nước tư bản phát triển vẫn
không từ bỏ ý đồ lôi kéo các nước đang phát triển đi theo con đường tư bản chủ
nghĩa như áp đặt quan hệ kinh tế xã hội không bình đẳng, áp đặt chíng trị tư
bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, chủ nghĩa
tư bản áp dụng chính sách thực dân kinh tế, thực dân công nghệ, thực dân thông
tin đối với các nước đang phát triển. Thông qua chính sách kinh tế bất bình
đẳng nói trên, các nước tư bản phát triển đã khai thác những nguồn tài nguyên
phong phú và nguồn lao động dồi dào rẻ mạt từ các nước đang phát triển và thu
được những khoản lợi nhuận kếch xù, còn các nước đang phát triển lại trở thành
nơi tiếp nhận nhưng thiết bị công nghệ lạc hậu của các nước tư bản phát triển;
là nơi tiếp tục sản sinh ra nhiều giá
trị thặng dư, lợi nhuận cho giai cấp tư sản và tư bản độc quyền. Kết quả là
khoảng cách giàu nghèo trên thế giới hiện nay có xu hướng ngày càng tăng lên
nhanh chóng, biểu hiện sự chênh lệch về thu nhập ( GDP /người/
năm) giữa các nước giàu nhất với các nước nghèo nhất năm 1950 là 44/1 thì đến
năm 1999 là 401/1.Bước sang thế kỷ 21 theo số liệu thống kê cho thấy, 3 người
giàu nhất thế giới có giá trị tài sản bằng GDP
của 48 nước nghèo nhất thế giới cộng lại; tổng thu nhập của 200 người giàu nhất
thế giới bằng tổng thu nhập của 41%số dân nghèo nhất. Từ bất bình đẳng về kinh
tế dẫn đến những bất bình đẳng về chính trị- văn hoá- xã hội. Nhiều cuộc xung
đột sắc tộc, tôn giáo gây ra các thảm họa nhân đạo. Từ thực tế đó, nhiều nước
tư bản phát triển sử dụng con bài “nhân quyền” “tự do” chống khủng bố… để can
thiệp bằng quân sự vào các nước khác. Ví dụ Mỹ đã lôi kéo nhiều nước đồng minh
tiến hành chiến tranh xâm lược các nước Apganistan, Irắc; cấm vận Cuba, Iran,
Triều tiên. Như vậy chính chủ nghĩa cường quyền về kinh tế và chính sách hiếu
chiến phản động về chính trị của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đã
làm cho mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển nhất với các nước đang phát
triển ngày càng trở nên gay gắt hơn.
Thứ
ba, mâu thuẫn giữa các tổ
chức độc quyền tư bản, giữa các công ty xuyên quốc gia, giữa các trung tâm kinh
tế lớn tư bản chủ nghĩa với nhau.
Đây là mâu thuẫn nội bộ của chủ nghĩa tư bản, nó
đã từng tồn tại trong suốt cả thế kỷ XX và vẫn tiếp diễn ở thế kỷ XXI. Chính
mâu thuẫn này đã đẩy nhân loại vào 2 cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc nhất
trong lịch sử nhân loại (chiến tranh thế giới 1939- 1945 đã làm cho 60 triệu
người bị chết, 60 triệu người bị tàn phế và thiệt hại về vật chất khoảng 1000
tỷ USD) . Hiện nay mâu thuẫn giữa các trung tâm quyền lực kinh tế Mỹ-Tây
Âu-Nhật bản biểu hiện thành các cuộc chiến tranh thương mại, như chiến tranh cá
thu, chiến tranh ô tô, chiến tranh sắt thép. Trong cuộc chiến đó đã có nhiều
công ty khổng lồ bị thôn tính và nhiều nước tư bản đã vượt ra khỏi sự khống chế
của Mỹ.
Thứ
tư, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với các nước
phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi Liên xô và
Đông Âu sụp đổ khiến cho chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, có người cho rằng
chủ nghĩa xã hội không còn nữa và như vậy mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với
chủ nghĩa xã hội cũng không còn nữa.Trên thực tế chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại ở
một số quốc gia, vẫn là một thực thể kinh tế chính trị xã hội đối lập với chủ
nghĩa tư bản và vẫn là một trào lưu chính trị tư tưởng tiến bộ ở các nước tư
bản, các nước đang phát triển và ở cả những nước mà chế độ xã hội chủ nghĩa vừa
mới bị tan dã cách đây không lâu. Biểu hiện của mâu thuẫn này là sự trở lại
chính trường của các lực lượng cánh tả ở Mỹ-latin, vai trò của các đảng công
nhân ở các nước Tây Âu, Bắc Âu
Trong vài thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã tạo
ra những bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó thực hiện
những điều chỉnh thích nghi về quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác,
song bản chất kinh tế, bản chất chính trị của chúng vẫn không thay đổi. Về kinh
tế đó là sự thống trị của các tổ chức độc quyền trên tất cả các lĩnh vực trong
nước và quốc tế, về chính trị là hiếu chiến, xâm lược, phản động và toàn diện.
Trước mắt chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn tồn tại và tiếp tục điều chỉnh
thích nghi nhằm xoa dịu phần nào mâu thuẫn, nên còn có khả năng phát triển.
Nhưng xét lâu dài, trên bình diện cả về kinh tế- chính trị- xã hội, cùng những
mâu thuẫn nội tại của nó, chủ nghĩa tư bản ngày nay không phải là chế độ xã hội
đóng vai trò tiến bộ trong lịch sử. Vì vậy nó nhất định sẽ bị thay thế bằng một
xã hội mới công bằng văn minh và hạnh phúc hơn. Đó là xu hướng lịch sử tất yếu
của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét