THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CAO NHẤT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 44 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/42019)!

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

CẢNH GIÁC VỚI TỘI PHẠM “RỬA TIỀN” QUA KIỀU HỐI TRONG DỊP CUỐI NĂM


Nguyễn Văn Kỷ
Hàng năm cứ vào dịp tết, đến xuân về, nguồn kiều hối lại có xu hướng tăng nhanh, đây là một trong những nguồn vốn quan trong cho phát triển kinh tế, cân bằng cán cân thanh toán, kích cầu tiêu dùng và tăng thu nhập cho bộ phận dân cư có người thân làm ăn, sinh sống ở nước ngoài. Tuy nhiên, nó cũng là một trong những con đường để tội phạm “rửa tiền” hoạt động. Vì vậy, bài viết này trên cơ sở phân tích tình hình rửa tiền thông qua kiều hối, nhất là vào dịp cuối năm, tác giả đề xuất một số giải pháp phòng chống tội phạm “rửa tiền” trong lĩnh vực này.

1. Rửa tiền, quy trình rửa tiền và ảnh hưởng của rửa tiền đến nền kinh tế.
Rửa tiền
Vấn đề rửa tiền không phải là vấn đề mới mà nó đã tồn tại từ khá lâu trên thế giới, khoảng 4000 năm trước công nguyên đã có dấu hiệu rửa tiền khi các thương nhân Trung Quốc che dấu tài sản thực có của mình để tránh bị phát hiện và sung công. Tuy nhiên, đến thế kỷ XX thì thuật ngữ “rửa tiền” mới được sử dụng rộng rãi. Vậy rửa tiền là gì?
Định nghĩa có tính pháp lý đầu tiên về rửa tiền được nhắc đến trong một văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế là Công Ước Viên năm 1988. Theo đó, rửa tiền là “hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó có được từ buôn bán ma tuý hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội, với mục đích che dấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người nào đó liên quan đến tội phạm hoặc hành vi phạm tội để né tránh trách nhiệm pháp lý từ các hành vi của mình; hành vi che dấu hoặc ngụy trang hình thái tự nhiên, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến tài sản mà biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có; hành vi mua, tàng trữ hoặc sử dụng tài sản khi biết rõ tài sản do phạm tội mà có”[1].


Ở Việt Nam, Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012 đã quy định rõ: Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có[2]. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, rửa tiền là hoạt động của các cá nhân hay tổ chức thông qua việc sử dụng các phương tiện và các công cụ để che giấu nguồn gốc thật sự của các khoản thu nhập bất hợp pháp.
Quy trình rửa tiền
Các thủ đoạn tẩy rửa tiền bẩn ngày càng đa dạng, tinh vi và có tổ chức hơn nhằm qua mặt các cơ quan chức năng. Về lý thuyết, việc tẩy rửa tiền có thể rất phức tạp, thông qua nhiều bước khác nhau với nhiều giao dịch và chủ thể khác nhau đồng thời liên quan đến nhiều tổ chức tài chính và các công ty để làm mất đi nguồn gốc tội phạm của tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức do phạm tội mà có. Thông thường, tiền được tẩy rửa qua 3 bước như sau:
Bước 1. Nhập tiền bẩn vào hệ thống kinh tế tài chính 
Mục đích của bước này là biến đổi hình thái ban đầu của các khoản thu nhập phạm pháp và tách chúng khỏi tổ chức tội phạm nhằm tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng.
Bước 2. Quay vòng tiền
Trong giai đoạn này, những kẻ rửa tiền sử dụng tiền bẩn để thực hiện càng nhiều giao dịch tài chính càng tốt, đặc biệt là các giao dịch xuyên quốc gia, nhằm tạo ra một mạng lưới giao dịch chằng chịt, phức tạp và khó lần dấu vết. Tiền có thể được chuyển đổi thành chứng khoán, séc du lịch hoặc qua các ngân hàng khác nhau. 
Bước 3. Hội nhập tiền đã rửa vào hệ thống kinh tế
Dù tiền bẩn có được quay vòng qua bao nhiêu giao dịch thì đích đến cuối cùng vẫn là tổ chức tội phạm ban đầu. Một số thủ đoạn tiêu biểu là làm sai lệch hóa đơn trong giao dịch xuất nhập khẩu, chuyển tiền qua một ngân hàng hợp pháp thông qua một ngân hàng trá hình hay công ty ma ở nước ngoài... Sau đó những kẻ rửa tiền sẽ đầu tư tiền này vào các hoạt động kinh tế hợp pháp. 
Ảnh hưởng của rửa tiền đến nền kinh tế
Rửa tiền có ảnh hưởng tiêu cực bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng... và từ lâu đã vươn những chiếc vòi bạch tuộc của chúng ra ngoài biên giới các quốc gia.
Thứ nhất, làm mất sự kiểm soát các chính sách kinh tế
Tại một số nước mới nổi hay đang trong quá trình chuyển đổi, những khoản tiền bất hợp pháp này làm cho ngân khố của chính phủ nhỏ lại do bị thất thoát từ nguồn thu thuế. Kết quả là chính phủ rơi vào tình trạng mất kiểm soát các chính sách kinh tế.
Thứ hai, làm suy yếu khu vực kinh tế tư nhân.
Bọn tội phạm rửa tiền sử dụng những công ty ngụy trang để trộn lẫn những khoản tiền bất hợp pháp với những khoản tiền hợp pháp.
Thứ ba, lũng đoạn hệ thống tài chính.
Hoạt động rửa tiền gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của các ngành kinh tế tài chính vì hai lý do: (1) hoạt động rửa tiền làm gia tăng các hành vi gian lận của các nhân viên trong định chế tài chính phục vụ cho mục đích rửa tiền của bọn tội phạm. Hành vi thông đồng tiếp tay cho hoạt động rửa tiền của  nhân viên cũng là yếu tố đầu tiên của chu trình rửa tiền qua hệ thống ngân hàng; (2) ở các nước đang phát triển, uy tín của định chế tài chính tác động tới tâm lý khách hàng, đến lượt nó tác động trở lại tới sự phát triển và lớn mạnh của định chế tài chính đó.
Thứ tư, nguy hại đến nền kinh tế vĩ mô.
Sự lưu chuyển các luồng tiền trong thế giới ngầm gây ra những đột biến trong cầu tiền tệ và bất ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái. Hoạt động kinh tế ngầm tác động xấu đến hướng đầu tư, chuyển từ các khoản đầu tư cẩn trọng sang đầu tư rủi ro cao làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hoạt động rửa tiền làm giảm tính hiệu quả của các công cụ tiền tệ của chính phủ, kích thích các hành vi tội phạm kinh tế như trốn thuế, thâm ô, mua bán nội gián, gian lận thương mại, tăng tính bất ổn của nền kinh tế…
Thứ năm, bóp méo hoạt động ngoại thương.
Hoạt động rửa tiền có liên hệ mật thiết tới việc làm biến tướng các hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia. Trong lĩnh vực này, bọn tội phạm thường sử dụng các khoản tiền bất hợp pháp đã được tẩy rửa để nhập khẩu các mặt hàng sang trọng, đắt tiền, những mặt hàng này không hề sinh lợi cho nền kinh tế hay tạo ra công ăn việc làm cho người dân thậm chí trong một số trường hợp còn tạo ra một số cơn sụt giá giả tạo, điều đó dẫn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất trong nước bị giảm sút.
Thứ sáu, ngăn cản hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập, nhiều vấn đề đã trở thành thách thức toàn cầu như bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phòng, chống dịch bệnh, chống khủng bố, chống tội phạm có tổ chức, bảo vệ sở hữu trí tuệ, trong đó có đấu tranh phòng, chống rửa tiền luôn được quan tâm hàng đầu.
2. Kiều hối, tác động của kiều hối đến nền kinh tế và rửa tiền thông qua kiều hối.
Có nhiều khái niệm hiểu về kiều hối. Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì: “Kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từ nước ngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài, được thể hiện trong cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền (ròng)”. Còn hiểu theo cách đơn giản nhất thì kiều hối là sự di chuyển tiền bạc từ những người đang sống và lao động ở nước ngoài đến thân nhân của họ ở quê hương.
Kiều hối được gửi về nước dưới hình thức hàng hóa và tiền tệ. Dưới hình thức hàng hóa gồm tất cả các mặt hàng tiêu dùng cho mục đích đầu tư. Những hàng hóa này có thể được buôn lậu hoặc nhập khẩu một cách hợp pháp. Gửi hoặc mang kiều hối dưới dạng hàng hóa cho mục đích sử dụng cá nhân hoặc bán lại ở các thị trường không chính thức cũng là một kênh phổ biến, đặc biệt là khi có sự chênh lệch giá cả tương đối ở nước nhận và nước chi trả kiều hối. Hình thức mang kiều hối bằng hàng hóa trở nên quan trọng hơn khi những chính sách nhập khẩu miễn thuế cho hàng hóa dưới dạng quà biếu, quà tặng. Tuy nhiên, kiều hối mang dưới dạng hàng hóa cá nhân lại thường không được ghi nhận như kiều hối hay hàng hóa nhập khẩu và rất khó tính toán được giá trị của nó.
Dưới dạng tiền tệ có thể là tiền mặt, séc, vàng,... kiều hối có thể được gửi thông qua kênh không chính thức và các kênh chính thức như ngân hàng hoặc các tổ chức chi trả kiều hối và cũng có thể mang theo người.
Tác động của kiều hối đến nền kinh tế
 Vào khoảng giữa những năm 1980 của thế kỷ 20, với những thay đổi căn bản trong chính sách về kiều hối, Việt Nam đã tiếp nhận một lượng lớn dòng ngoại tệ từ các kiều bào ở nước ngoài. Tính trung bình, một người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước khoảng 1000 USD một nămNhững dòng vốn này thật sự đã có những tác động to lớn đối với các cá nhân nhận tiền nói riêng cũng như sự phát triển của đất nước nói chung. Từ đó cho tới nay, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam luôn luôn tăng với tốc độ ngày càng cao. Đặc biệt vào những dịp cuối năm (âm lịch) nguồn kiều hối càng có xu hướng tăng nhanh. Năm 2000, lượng kiều hối gửi về là 1,75 tỷ USD, đến năm 2005, con số này đã tăng lên là 3,8 tỷ USD (tăng 117% so với năm 2000). Đến năm 2008, mặc dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu xẩy ra, nhưng lượng kiều hối gửi về Việt Nam không những không bị suy giảm mà còn tăng vọt lên ở mức 7,2 tỷ USD. Năm 2010, với đà phục hồi của kinh tế thế giới, Việt Nam tiếp tục nhận được dòng kiều hối với giá trị 8 tỷ USD, tăng 1,7 tỷ so với năm 2009. Cũng trong năm này,Việt Nam được Ngân hàng Thế giới xếp vào vị trí 16/20 nước tiếp nhận nguồn kiều hối lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á, sau Philippines. Trong báo cáo về triển vọng kiều hối toàn cầu năm 2013, Ngân hàng Thế giới đánh giá VN tiếp tục nằm trong top 10 nước nhận nhiều kiều hối, với kết quả dự kiến là 10,6 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm ngoái. Theo thống kê của Ủy ban về người VN ở nước ngoài, hiện có khoảng 4,5 triệu người Việt đang định cư tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngoài ra, có khoảng nửa triệu lao động VN đang làm việc ở nước ngoài[3]. Với lượng kiều hối lớn như vậy, sẽ có những động rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội theo cả hai chiều hướng, tích cực và tiêu cực.
Những tác động tích cực
Kiều hối là nguồn thu ngoại tệ ổn định, không hoàn lại và đặc biệt kiều hối tạo ra nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế, không tạo gánh nặng nợ nước ngoài cho nền kinh tế. Là dòng vốn chảy vào ổn định hơn các dòng vốn khác do tính đặc thù của nó là thường xuyên được chuyển vào từ các nước có nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập của người cư trú hay lao động ở đó cũng ổn định, hơn nữa chi phí của dòng vốn này thấp. Đồng thời, nguồn vốn này giúp quốc gia giảm thiểu nhiều rủi ro trong quá trình huy động vốn, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài. Kiều hối đóng góp xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người lao động. Kiều hối là dòng vốn chủ yếu chuyển thằng vào khu vực dân cư, do đó có tính thúc đẩy đầu tư tư nhân cao, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức thu nhập cho các chủ thể nhận kiều hối và các chủ thể được hưởng lợi từ nguồn đầu tư kiều hối. Kiều hối hỗ trợ cán cân thanh toán bù đắp thâm hụt cán cân thương mại.
Tác động tiêu cực
 Nguồn kiều hối chuyển về Việt Nam lại cũng chính là áp lực gia tăng tổng phương tiện thanh toán thông qua gia tăng tài sản có yếu tố nước ngoài ròng (NFA), gây khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát tiền tệ.
 Nguồn kiều hối qua các kênh không chính thức sẽ không được thu hút hoàn toàn vào hệ thống ngân hàng dẫn đến một phần kiều hối bán ra chợ đen sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng dola hoá trong nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước khó kiểm soát được hoàn toàn thị trường ngoại hối.
Nguồn kiều hối đổ vào Việt Nam mà phần lớn số đó là các hộ gia đình hưởng, đem tiêu dùng cũng làm tăng tổng cầu, có thể đã góp phần làm mất cung - cầu hàng hoá, khiến lạm phát dễ xẩy ra. 
Để thực hiện trót lọt quá trình này, đối tượng rửa tiền thường chuyển tiền đan xen tiền bẩn với các nguồn tiền hợp pháp và chuyển qua lại giữa các hoạt động kinh doanh bằng nhiều tài khoản khác nhau, hoặc giữa tài khoản trong nước với tài khoản nước ngoài. Và tất nhiên, giới tội phạm có thể nhân danh hoặc trà trộn vào các khoản kiều hối thông thường để chuyển tiền về trong nước. Khi đó, các ngân hàng thường được chọn lựa không những vì khả năng có thể giao dịch với các khoản tiền rất lớn, mà còn vì một khi đồng tiền lọt được vào tài khoản của ngân hàng, nó lập tức trở thành một đồng tiền sạch, từ đó có thể thực hiện được ngay các lệnh thanh toán với số lượng lớn đến bất kỳ đâu, mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờ gì về tính hợp pháp của đồng tiền.
Như vậy, hệ thống ngân hàng sẽ được nhắm đến để thực hiện rửa tiền ngay ở giai đoạn đầu và giai đoạn hai đơn giản bằng chính con đường kiều hối. Việc chuyển tiền giữa các ngân hàng có thể không thuộc phạm vi báo cáo nghi vấn rửa tiền; do vậy các nhân viên ngân hàng bị mua chuộc có thể tạo điều kiện dễ dàng hơn để che đậy việc chuyển những khoản tiền lớn bất hợp pháp giữa các tài khoản với nhau khi thực hiện chuyển tiền kiều hối.
3. Giải pháp phòng chống “rửa tiền” qua kiều hối.
Từ những phân tích trên đây cho thấy, chuyển tiền qua con đường kiều hối về Việt Nam là con đường nhanh và dễ dàng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang có những chính sách khuyến khích kiều bào gửi kiều hối về xây dựng quê hương. Do nền kinh tế sử dụng nhiều tiền mặt, cùng với hoạt động đầu tư và thương mại ngày càng gia tăng, trong khi chưa có một cơ chế hiệu quả để phòng chống rửa tiền qua con đường này, Việt Nam có thể trở thành mục tiêu của hoạt động rửa tiền thông qua con đường kiều hối. Vì vậy, cần phải có những giải pháp thiết thực để vừa khuyến khích kiều bào gửi tiền về xây dựng quê hương vừa ngăn chặ được tội phạm “rửa tiền” thông qua con đường này.
Một là, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về Luật phòng, chống rửa tiền.
Ngày 18 tháng 6 năm 2012, tại kỳ hp th 3, Quốc hội khóa XIII, Luật phòng, chống rửa tiền. Tuy nhiên, do công tác tuyên truyền chưa được tốt, người dân chưa hiểu về phòng, chống rửa tiền đã tạo một tâm lý lo lắng cho người dân, đã ảnh hưởng rất lớn đối với các ngân hàng thương mại trong việc thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền. Vì vậy, các cấp, các ngành phải không ngừng đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật, nhất là Luật phòng, chống rửa tiền và coi đây là một trong những việc làm thường xuyên, từ đó làm cho mọi thành viên trong xã hội có ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.
Hai là, Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan, với các nước và tổ chức quốc tế
 Thực tiễn cho chúng ta thấy trong lĩnh vực phòng chống rửa tiền cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành có liên quan như NHNN, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp,... trong việc hướng dẫn, kiểm tra chấp hành các biện pháp phòng chống rửa tiền của các tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý. Tích cực phối hợp với các nước và tổ chức quốc tế trong việc điều tra và thiết lập các quy định phù hợp với luật pháp quốc tế về phòng chống rửa tiền.
Ba là, đối với hệ thống ngân hàng
Ngân hàng nhà nước cần đầu tư hệ thống công nghệ thông tin về phòng, chống rửa tiền cho Cục phòng, chống rửa tiền. Việc đầu tư này sẽ giúp Cục phòng, chống rửa tiền thu thập, phân tích thông tin về các giao dịch phải báo cáo, các giao dịch đáng ngờ từ các tổ chức tín dụng một cách nhanh chóng và kịp thời. Ban hành quy chế giám sát việc tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền. Việc ban hành quy chế giám sát sẽ giúp cho Cơ quan thanh tra của Ngân hàng nhà nước nói chung và Cục phòng, chống rửa tiền nói riêng chủ động trong việc thanh tra giám sát các ngân hàng thương mại. Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm về phòng, chống rửa tiền với các ngân hàng thương mại và tăng cường hợp tác quốc tế.
Đối với các ngân hàng thương mại cần thành lập bộ phận chuyên trách về phòng, chống rửa tiền. Xây dựng chính sách nhận biết khách hàng để theo dõi, tìm hiểu khách hàng góp phần quan trọng trong việc kiểm soát các rủi ro của ngân hàng. Thực hiện nghiêm chỉnh quy trình nội bộ về phòng, chống rửa tiền. Đào tạo nâng cao chuyên môn cho cán bộ về công tác phòng, chống rửa tiền. Chấp hành tuyệt đối các qui định về hạn mức giao dịch cần phải báo cáo theo Nghị định 74 và Thông tư 22 về phòng chống rửa tiền.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ tài chính, Thông tư Số:  148/2010/TT-BTC  ngày 24 tháng 9 năm 2010, Hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền đối với  lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và trò chơi giải trí có thưởng.
2. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định Số 74/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2005 về phòng, chống rửa tiền.
3. Liên Hiệp Quốc (2000), Công ước Palermo về chống tội phạm có tổ chức, Palermo.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư số 22/009/TT-NHNN, ngày 17 tháng 11 năm 2009, Hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền.
5. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012.
6. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định số 1002/QĐ-NHNN ngày 08 tháng 7 năm 2005 về việc thành lập trung tâm thông tin phòng, chống rửa tiền trực thuộc Ngân hàng Nhà nước.
7. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định Số: 378/QĐ-NHNN, ngày 08 tháng 03 năm 2011, Ban hành kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố trong ngành ngân hàng.
8. Phan Nguyễn Bảo Vân (2008), Phát triển nguồn lực kiều hối tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế TPHCM, TPHCM.
9. Paul Allan Schott, Hướng dẫn tham khảo về chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội – 2007.
10. UN (1988), Convention Against Illicit Traffic In Narcotic Drugs And Psychotropic Substances, p.p 3.


  







[1] UN (1988), Convention Against Illicit Traffic In Narcotic Drugs And Psychotropic Substances, p.p 3.  
[2] Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

MỤC BÀI TRONG BLOG

Cảm ơn quý khách đã ghé thăm Blog