Trong thời
gian gần đây, tình hình chính trị thế giới và khu vực có những diễn biến phức
tạp cũng như sự gia tăng hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, Việt Nam
đang phải đối diện với nhiều nguy cơ và thách thức lớn. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Đảng ta đã chỉ ra rằng: “Những biểu hiện xa rời mục tiêu của
CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù
địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử
dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở
nước ta.” Như vậy, có thể thấy đối với cả chiến lược “diễn biến hòa bình” và
vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Đảng ta đều chú trọng đánh giá; phân
tích để có quyết sách phù hợp, không xem nhẹ nguy cơ nào.
1. Thuật
ngữ TDB, TCH chính thức được đưa vào trong Văn kiện của Đảng tại Đại hội lần
thứ XI, đặc biệt được đề nhấn mạnh trong nội dung và quá trình triển khai Hội
nghị Trung ương 4. Trước hết, TDB, TCH không phải là một, mà là hai khái niệm
có mối quan hệ chặt chẽ, chuyển hóa cho nhau trong quá trình vận động, biến
đổi. TDB là khái niệm nhấn mạnh đến quá trình tự thân vận động, tự thân biến
đổi của sự vật, còn TCH là khái niệm nhấn mạnh đến quá trình thay đổi cả về
chất và lượng của bản thân sự vật theo những chiều hướng khác nhau. Như vậy,
TDB, TCH là một quá trình vận động, biến đổi và chuyển hóa diễn ra bên trong
mỗi sự vật, hiện tượng từ dạng này sang dạng khác. Quá trình này chịu sự tác
động và chi phối của cả nhân tố khách quan và chủ quan, song yếu tố bên trong,
nguyên nhân chủ quan luôn giữ vai trò quyết định. Nói cách khác, TDB, TCH là
quá trình tự phủ định của sự vật trong sự vận động, biến đổi của chúng. Mọi sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều nằm trong quá trình vận động,
biến đổi không ngừng. Sự vật vận động, biến đổi là đang thực hiện quá trình
tích dần về lượng đến “độ” nhất định sẽ tạo ra “bước nhảy” làm thay đổi về chất
của sự vật tạo ra chất mới và lượng mới. Quá trình này có thể diễn ra theo hai
chiều hướng tích cực và tiêu cực.
TDB, TCH
nói đến ở đây mang hàm ý tiêu cực, là quá trình tự phủ định, nhưng nó không
phải là phủ định biện chứng, mà là quá trình tự phủ định cái khẳng định, mặt
tích cực của chính bản thân mình, nó đi ngược với nguyên lý phát triển của phép
biện chứng và do đó, nó là bước thụt lùi dẫn đến tự suy thoái, tự tiêu vong của
sự vật. TDB, TCH mà Đảng ta đề cập trong Văn kiện XI, về bản chất là một quá
trình suy thoái từ bên trong của lực lượng cách mạng. Nói cách khác, TDB, TCH
là quá trình thay đổi về chất diễn ra ở bên trong của mỗi cá nhân con người.
Quá trình thay đổi này có thể là tích cực, tiến bộ hoặc ngược lại là tiêu cực,
phản tiến bộ. Trên thực tế, TDB, TCH là thuật ngữ ám chỉ quá trình tự thay đổi
theo chiều hướng tiêu cực, phản tiến bộ về tư tưởng, chính trị của con người.
Nếu coi chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng là tích cực,
tiến bộ thì TDB, TCH ở đây là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; thiếu niềm tin, hoài nghi, thậm chí phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng;
xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ
để hướng theo tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử
thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và thay bằng
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và
các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…
Theo quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân cơ bản, giữ vai trò quyết
định đến quá trình TDB, TCH là nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân bên trong, chứ
không phải nguyên nhân khách quan, nguyên nhân bên ngoài. Nguyên nhân khách
quan, bên ngoài chỉ đóng vai trò là tiền đề, điều kiện làm thúc đẩy sự phát
sinh, hình thành và phát triển của nguyên nhân chủ quan, bên trong. Sinh thời,
V.I. Lênin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những
sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì
tất cả sẽ sụp đổ”. Sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối
những năm 80 đầu 90 của thế kỷ XX là một minh chứng rất rõ mà các thế lực thù
địch đã thành công khi sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, hiểm độc nhằm tạo ra và
thúc đẩy TDB, TCH từ bên trong các nước XHCN. Thực tế cho thấy, một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô trước đây bắt nguồn
từ sự TDB, TCH ngay trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô. Đó là
sự suy thoái, biến chất từ bên trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhà kinh tế
học nổi tiếng người Mỹ, David Code đã từng nhận xét: Đảng Cộng sản Liên Xô là
chính đảng duy nhất làm giàu trong tang lễ của chính mình.
Ở đây ta
cũng cần phân biệt, giữa TDB, TCH với “tính vượt trước” của tư tưởng, lý luận
so với thực tiễn. Ý thức xã hội trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định có thể
“vượt trước” và mở đường cho tồn tại xã hội, góp phần định hướng, dẫn dắt tồn
tại xã hội phát triển. Ví dụ, quan điểm về nền kinh tế trị trường XHCN ở nước
ta xuất hiện trước Đại hội VI (1986) là tư tưởng trái ngược, mâu thuẫn với quan
điểm của Đảng, Nhà nước lúc đó. Có phải những ý kiến đó là biểu hiện của TDB,
TCH? Tất nhiên là không, vì thứ nhất đây là ý kiến, quan điểm sau này đã được
Đảng ta thừa nhận, thực tiễn khách quan thừa nhận là đúng đắn, hợp quy luật;
thứ hai, ý kiến, quan điểm trên không đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản là chủ
quyền quốc gia, lợi ích dân tộc và quyền lợi của nhân dân, như tư tưởng Hồ Chí
Minh về “dĩ bất biến, ứng khả biến”; thứ ba, nó mâu thuẫn với quan điểm của
Đảng, Nhà nước ta lúc đó nhưng đây không là mâu thuẫn đối kháng không thể giải
quyết được mà là giải quyết được mâu thuẫn này chính là động lực cho sự phát
triển lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng CNXH. Đây là hiện tượng ý
thức xã hội vượt trước so với tồn tại xã hội và đã làm tiền đề lí luận cho
nhiệm vụ dẫn dắt, mở đường để thực tiễn xã hội phát triển đi lên. Do đó không
thể quy tất cả các quan điểm, tư tưởng khác với quan điểm của Đảng, Nhà nước
vào cái gọi là TDB, TCH. Cho nên, việc nhận thức bản chất, dấu hiệu, đặc trưng
của TDB, TCH là rất cần thiết trong đấu tranh chống chiến lược DBHB của các thế
lực thù địch. Nếu không phân biệt đâu là TDB, TCH, đâu là quá trình phát triển
của tư duy lí luận có “tính vượt trước” so với thực tiễn khách quan thì sẽ dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng và vô tình mắc vào cái bẫy trò chơi “phi bằng
không” của các thế lực thù địch.
Chủ thể của
TDB, TCH là người cán bộ, đảng viên. Song chủ thể đó có vị trí càng cao, quyền
lực càng lớn và trong tay nắm tài sản càng nhiều thì hậu quả gây ra càng nguy
hiểm. Nếu coi TDB của người cán bộ, đảng viên làm quá trình thẩm thấu từng
ngày, từng hoạt động thì TCH như là cái đích đến của TDB. Đó là quá trình “tự
tha hóa”, làm cho người cán bộ, đảng viên không còn là chính mình mà đã chuyển
sang thành kẻ suy thoái, biến chất gây nguy hiểm cho Đảng, tổ chức và xã hội.
Nếu “thóa hóa” của Mác là do chế độ tư bản chủ nghĩa trực tiếp gây nên thì TDB,
TCH của người cán bộ, đảng viên lại có nguyên nhân bên trong bản thân mình là
chính.
Như vậy,
thực chất của TDB, TCH là quá trình thay đổi về lập trường, tư tưởng chính trị
theo chiều hướng tiêu cực. Tuy nhiên, hiện tượng này không phải bộc lộ ngay ra
bên ngoài bằng lời nói và hành động mà chúng diễn biến trong một quá trình bắt
nguồn từ những suy thoái, biến chất về đạo đức, lối sống, sinh hoạt cụ thể của
con người. Quá trình suy thoái này diễn ra theo chiều hướng tích dần về lượng
đến một lúc nào đó sẽ “biến chất” thành TDB, TCH. Quá trình này diễn ra trong
thời gian nhanh hay chậm là còn phụ thuộc vào từng cá nhân, tổ chức đó có “độ”
vững vàng về chính trị, liêm khiết, trong sáng về đạo đức, lối sống của họ.
2. Bộ
trưởng ngoại giao Mỹ John Foster Dulles là
người đầu tiên đề ra chiến lược “Diễn biến hòa bình” (“DBHB”) vào
đầu những năm 50 thế kỷ XX. Nhưng mầm mống của tư tưởng chiến lược
này đã nảy sinh từ năm 1949. Ngày 20-7-1949, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ
lúc đó là Akison trong một bức thư gửi Tổng thống Tơruman đã đề ra
chiến lược với mục tiêu khuyến khích “những người theo chủ nghĩa dân
chủ cá nhân” ở Trung Quốc, tạo ra sự diễn biến từ bên trong để lật
đổ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, làm sụp đổ chính
quyền nhân dân.
Cách nói
của John Foster Dulles trong
bản tường trình trước Quốc hội Mỹ ngày 15.1.1953, với âm mưu rõ ràng và thủ
đoạn lộ liễu hơn khi nói rằng: Muốn giải phóng nhân dân bị nô dịch ở các nước
xã hội chủ nghĩa cần phải dùng “phương pháp phi chiến tranh”, tức là dùng “thủ
đoạn hòa bình để giành thắng lợi”, và nhấn mạnh “những ái không tin tưởng vào
sức ép tinh thần và sức ép tuyên truyền có thể sản sinh ra hiệu quả thì quả
thực là người đó không hiểu biết”. Ông ta còn chủ trương thúc đẩy những
thay đổi theo hướng đi lên trong các nước xã hội chủ nghĩa, gửi gắm
hy vọng vào những người thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư ở các nước xã
hội chủ nghĩa. Đến lúc đó, chiến lược “DBHB” có thể coi như đã xác
lập bước đầu.
Có thể nói,
“DBHB” là chiến lược có tính toàn cầu do các thế lực thù địch phản động quốc
tế lợi dụng thời cơ tình hình thế giới có xu thế phát triển hòa
bình và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) tiến hành cải cách, mở
cửa nhằm xóa bỏ các nước XHCN trên phạm vi toàn thế giới, hướng các nước XHCN
đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa (TBCN), trong đó có Việt Nam. Đó là sự tác
động chuyển hóa chế độ nhà nước XHCN sang chế độ TBCN do chủ nghĩa đế quốc tiến
hành bằng các hình thức, biện pháp, phương tiện phi quân sự, trước hết và chủ
yếu là chuyển hóa, thay thế cơ sở tư tưởng chính trị và cơ sở giai cấp xã hội
của chế độ nhà nước XHCN bằng cơ sở chính trị và cơ sở giai cấp xã hội của chế
độ xã hội TBCN. Chúng dựa trên cơ sở tuyên truyền phủ nhận đi đến xóa bỏ chủ
nghĩa Mác – Lênin, đồng thời truyền bá, xác lập hệ tư tưởng tư sản ở các nước
XHCN; thay đổi, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN sang nền kinh
tế thị trường tự do của TBCN trên cơ sở xóa bỏ chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất, đồng thời khuynh hướng tư hữu hóa tư nhân hóa nền kinh tế ở các nước
XHCN; thay đổi, chuyển hóa văn hóa, lối sống XHCN sang văn hóa, lối sống tư sản
trên cơ sở phản bác, phủ định sạch trơn văn hóa, lối sống XHCN, đồng thời
truyền bá văn hóa, lối sống của giai cấp tư sản. Cuộc tấn công đó thay vì trực
tiếp và diễn ra trên lĩnh vực quân sự và chính trị là chính, đã chuyển sang
hình thái gián tiếp là chủ yếu và diễn ra trên tất cả các lĩnh vực. Hoạt động
của các thế lực thâm nhập ngày càng sâu vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, ngoại giao, dân tộc, tôn giáo... của các nước xã hội chủ
nghĩa; ủng hộ và mua chuộc “những phần tử bất đồng chính kiến”,
nuôi dưỡng tư tưởng sùng bái phương Tây một cách mù quáng. Khi chúng
thấy thời cơ đến, có thể hàng động thì phao tin đồn nhảm, gây rối,
kích động bạo loạn, tiến hành lật đổ để cuối cùng biến các nước
XHCN thành thành viên của thế giới TBCN.
3. Như vậy,
DBHB và TDB, TCH là hai vấn đề khác nhau. DBHB là chiến lược do các thế lực thù
địch tiến hành một cách chủ động với động cơ, mục đích rõ ràng là nhằm xóa bỏ
chế độ XHCN, hướng các nước XHCN đi theo quỹ đạo của CNTB. Đây là hoạt động tác
động từ bên ngoài của các thế lực thù địch vào nộ bộ nhằm hình thành các nhân
tố, lực lượng chống đối từ trong lòng các nước XHCN. Trong khi đó, TDB, TCH mà
Đảng ta đề cập lại nhấn mạnh đến quá trình tự vận động, biến đổi và chuyển hóa
theo chiều hướng tiêu cực trong nhận thức và hành động của người cán bộ, đảng
viên, nhấn mạnh đến yếu tố bên trong, yếu tố nội tại. TDB, TCH là một quá trình
thụ động, không có động cơ và mục đích rõ ràng. Mặc dù mục tiêu và kết quả của
DBHB với TDB, TCH không có gì khác nhau khi cả hai đều muốn phủ định đi đến xóa
bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam… nhưng chủ thể của DBHB gắn liền với các thế lực
địch, còn chủ thể của TDB, TCH lại gắn chặt với người cán bộ, đảng viên trong
hệ thống chính trị, trong nội bộ Đảng Cộng sản. Nói cách khác, nhìn vào chiến
lược DBHB chúng ta có thể nhận thấy rõ “kẻ thù” của mình nhưng đối với TDB
không dễ đến nhận ra “kẻ thù”, bởi nó nằm ngay trong chính bàn thân người cán
bộ, đảng viên, là “tha hóa” trong người cộng sản mà nếu không phòng ngừa, ngăn
chặn hiệu quả thì dưới tác động tiêu cực của nhân tố khách quan và chủ quan có
thể dần dần dẫn tới TCH.
Tuy nhiên,
chiến lược DBHB và TDB, TCH lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện
ở một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất,
DBHB có mối quan hệ khăng khít, không tách rời với quá trình TDB, TCH. Bản chất
của chiến lược DBHB là thông qua các phương thức, thủ đoạn khác nhau tác động
vào nội bộ, làm cho các nước XHCN TDB ngay từ bên trong, dẫn tới TCH theo con
đường TBCN. Thúc đẩy quá trình TDB, TCH trong lòng các nước XHCN chính là một
trong những cách thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB.
Nguy cơ TDB, TCH có nguyên nhân từ bên trong, nguyên nhân nội tại còn được thúc
đẩy bởi các nguyên nhân bên ngoài. Một trong những nguyên nhân bên ngoài hết
sức quan trọng đó là do chiến lược DBHB của các thế lực thù địch tạo ra. Thực
tế rằng, luận điệu tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định con đường xây dựng CNXH
ở nước ta của các thế lực thù địch trong thời gian vừa qua cũng đã góp phần
không nhỏ dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối
sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đây là biểu hiện rõ nét nhất của TDB,
TCH. Mà nguyên nhân của nó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, một
trong bốn lý do quan trọng đó là do sự chống phá điên cuồng và quyết liệt của
các thế lực thù địch, phản động. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Các thế lực
thù địch và các phần tử cơ hội chắc mẩm đây là cơ hội để họ dấn tới tác động,
làm chuyển hóa tình hình, thay đổi đường lối ở nước ta, cho nên họ hoạt động
rất điên cuồng với nhiều thủ đoạn và sách lược mới; vừa dùng các lực lượng,
phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước ta để
tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống đối từ nội bộ Đảng ta, xã hội ta,
hòng phá ta từ bên trong phá ra, làm cho “cộng sản tự diệt cộng sản”, “cộng sản
con diệt cộng sản bố”.
Thứ hai,
DBHB và TDB, TCH có thể xem là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ tương hỗ,
bổ trợ cho nhau. Chiến lược DBHB hướng tới thúc đẩy các yếu tố TDB, TCH và là
một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ TDB, TCH. Đến lượt nó, TDB,
TCH lại là môi trường, điều kiện để chiến lược DBHB của các thế lực thù địch
đẩy mạnh chống phá. Nếu người cán bộ, đảng viên không có biểu hiện TDB, TCH thì
chiến lược DBHB của các thế lực thù địch sẽ không có hiệu quả. Ngược lại, chính
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng
viên lại là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng,
triển khai và thúc đẩy chiến lược DBHB.
Thứ ba,
DBHB và TDB, TCH đang là nguy cơ tồn tại hiện hữu, đe dọa đến sự tồn vong của
chế độ XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng và khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, nếu
không có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn kịp thời, hiệu quả thì có
thể dẫn tới những hậu quả khủng khiếp – đó là sự tan rã của Đảng Cộng sản, sự
diệt vong chế độ XHCN và mọi thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân
đấu tranh có được hoàn toàn bị xóa bỏ.
TDB, TCH có
mối quan hệ mật thiết với chiến lược DBHB của các thế lực thù địch nên việc
phòng, chống TDB, TCH cũng phải có sự liên hệ chặt chẽ với đấu tranh chống
DBHB. Đấu tranh chống DBHB góp phần ngăn chặn quá trình TDB, TCH. Ngược lại,
phòng, chống TDB, TCH góp phần hạn chế điều kiện, triệt tiêu “môi trường màu
mỡ” mà chiến lược DBHB của các thế lực thù địch dựa vào lợi dụng, khái thác.
Phòng, chống TDB, TCH cũng như đấu tranh chống DBHB đều hướng tới mục đích là
bảo vệ Đảng, chế độ XHCN, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như mỗi cán bộ,
đảng viên và nhân dân. Do vậy, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng và đối ngoại. Trước hết và quan trọng nhất là phòng, chống TDB, TCH trên
lĩnh vực tư tưởng chính trị. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh để bảo vệ, giữ
vững và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đây là điều kiện tiên quyết, chi phối và ảnh hưởng đến tất
cả các lĩnh vực khác. Có giữ vững, bảo vệ được nền tảng tư tưởng chính trị của
Đảng thì mới có cơ sở và kim chỉ nam cho việc phòng, chống TDB, TCH cũng như
đấu tranh chống chiến lược DBHB trên các lĩnh vực khác được thành công.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét