Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam, họp từ ngày 20/01/2016 đến ngày 28/01/2016, tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Một trong các nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội xác định là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”[1]. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, bởi chỉ khi nào chúng ta xây dựng được môi trường pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách, các quy định, quy tắc, chế định) tốt nhất cho các chủ thể phát huy mọi sức sáng tạo phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển mới có thể thực hiện thành công mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Tuy
nhiên, thể chế KTTT định hướng XHCN là một vấn đề lý luận và thực tiễn mới mẻ, phức
tạp, vì vậy để hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội XII của Đảng cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, bao quát cả 4 yếu tố chủ yếu cấu thành, đó là (1) các
luật lệ, quy tắc điều hành nền kinh tế; (2) các chủ thể tham gia vào hoạt động
trong nền kinh tế; (3) cơ chế thực thi các luật, quy tắc và điều chỉnh các mối
quan hệ giữa các chủ thể; (4) hệ thống thị trường, cụ thể:
Một
là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp.
Có thể thấy rõ quá trình xây dựng thể chế KTTT định
hướng XHCN còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập
kinh tế quốc tế của đất nước, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ,
chưa đồng bộ và chưa thống nhất. Việc xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai,
tài nguyên, tài sản công…còn nhiều bất cập, vướng mắc. Vì vậy, cần tiếp tục
hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về sở hữu theo hướng khẳng định sự tồn
tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở
hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu
đối với các loại tài sản mới, như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu…, cơ chế bảo vệ
quyền lợi của chủ sở hữu trong các tranh chấp kinh tế, thương mại.
Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về phân bổ
nguồn lực, phân phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn
với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp lại, phát triển
và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước để góp phần giữ vững và phát huy vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN.
Đổi mới, phát triển kinh tế tập thể theo cơ chế thị
trường, phù hợp với các nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi
và phát triển cộng đồng. Khuyến khích
tăng vốn góp, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong
hợp tác xã; phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã đa dạng, sản xuất kinh doanh
có hiệu quả. Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế tập thể tiếp
cận các nguồn vốn; đào tạo cán bộ quản lý, lao động; trợ giúp kỹ thuật và chuyển
giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, tham gia các chương trình xúc tiến
thương mại, các dự án đầu tư của Nhà nước.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện
để các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận các nguồn lực trên nguyên tắc cạnh tranh
bình đẳng. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân liên doanh, liên kết với các
doanh nghiệp nhà nước, bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp. Tăng cường
và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân để các doanh nghiệp
tư nhân tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà
nước.
Hai
là, phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
Trong những năm qua, các yếu
tố thị trường và các loại thị trường đã hình thành, nhưng phát triển chậm, thiếu
đồng bộ, vận hành chưa thông suốt. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gian
lận thương mại, trốn, lậu thuế còn nhiều, chậm được khắc phục. Việc phân bổ nguồn
lực quốc gia chưa hợp lý. Chính sách tiền lương còn mang tính bình quân, chưa đảm
bảo đời sống của người hưởng lương, chưa khuyến khích, thu hút và sử dụng được
người tài. Vì vậy trong những năm tới cần phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
và các loại thị trường.
Về
phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
Tiếp tục hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô về
tài chính, tiền tệ, giá cả, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh
doanh…, thực hiện nhất quán cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các
cân đối lớn của nền kinh tế, Nhà nước chủ yếu sử dụng các biện pháp kinh tế và
sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, giảm tối đa các can thiệp hành chính
vào nền KTTT. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát thị trường của Nhà nước và
xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp phù hợp với kinh tế thị trường
và các cam kết quốc tế. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao lòng tin
của xã hội đối với pháp luật và các cơ quan tư pháp.
Phát triển
đồng bộ các loại thị trường
Về thị trường hàng hóa và dịch vụ: Cần
phát triển thị trường nội địa theo hướng ổn định, văn minh, hiện đại… phù hợp
với các xu hướng chung của hội nhập kinh tế quốc tế. Mở cửa thị trường cho dịch
vụ phân phối theo các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Hiệp
định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng cũng cần phải có lộ trình, để
hạn chế những rủi ro cho thị trường nội địa, tạo động lực cạnh tranh cho các
doanh nghiệp trong nước. Tiếp tục tự do hoá thương mại trên cơ sở thực hiện các
cam kết song phương, đa phương và theo thông lệ quốc tế; giảm dần các biện pháp
bảo hộ thuế quan và phi thuế quan phù hợp với các cam kết đã ký. Có chính sách
tạo bước phát triển nhanh, mạnh và toàn diện thị trường dịch vụ nhất là những
dịch vụ có giá trị gia tăng lớn như: dịch vụ viễn thông, dịch vụ thực hiện phần
mềm, dịch vụ tư vấn khoa học kỹ thuật…
Về thị trường tài chính: Cần phát huy vai trò điều tiết
thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước như một ngân hàng trung ương hiện đại
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và kiểm soát lạm phát. Tạo môi trường
pháp lý thuận lợi, thu hút nhiều loại hình chủ thể tham gia vào thị trường tiền
tệ. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cho sự hoạt
động và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán.
Về thị trường bất động sản: Cần sớm có
qui định bắt buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải bán nhà và
chuyển quyền sử dụng đất tại các dự án thông qua sàn giao dịch, trung
tâm giao dịch bất động sản theo Luật Kinh doanh Bất động sản - để mọi đối tượng có nhu cầu
được tiếp cận trực tiếp các thông tin mua bán, hạn chế đầu cơ, mua đi bán lại
thu lời bất chính.
Về thị trường lao
động: Đổi mới cơ chế điều tiết
quan hệ giữa cung và cầu về số lượng và chất lượng lao động trên thị
trường. Hỗ trợ phát triển kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn để tạo thêm
công ăn việc làm, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc
tế để đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Thúc đẩy việc mở rộng hoạt
động giao dịch trên thị trường lao động, phát triển hệ thống trung tâm
giới thiệu việc làm.
Về thị trường khoa
học công nghệ: Sớm rà soát, sửa đổi, bổ
sung và ban hành mới những văn bản dưới luật liên quan tới sở hữu trí tuệ cho
phù hợp với thông lệ quốc tế và tiến trình hội nhập của Việt Nam. Đổi mới
công tác quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng thương
mại hoá; Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về tài chính - kế toán trong
chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, thị trường khoa học và công nghệ nhằm
tăng cường đóng góp của khoa học và công nghệ vào sự nghiệp phát triển kinh
tế-xã hội.
Phát triển một số loại dịch vụ công cơ bản (y tế,
giáo dục, văn hoá, thể thao). Trong lĩnh vực dịch vụ công cần “Tuân thủ nguyên
tắc bù đắp đủ chi phí để tái tạo và mở rộng quy mô cung ứng dịch vụ công với chất
lượng ngày càng cao”. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục, y tế, văn
hoá, thể dục, thể thao, đặc biệt là cho những vùng nghèo, người nghèo, bảo đảm
những dịch vụ cơ bản cho nhân dân. Đồng thời, Nhà nước đẩy mạnh xã hội hoá, vận
dụng hợp lý những mặt tích cực của cơ chế thị trường để khuyến khích và huy động
các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, các nguồn lực khác phát triển mạnh
các dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng ngày càng tăng của nhân
dân qua các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng...
Ba
là, đẩy mạnh cải cách hành chính.
Trong thời gian qua tổ chức bộ máy, cơ chế vận
hành của bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước còn nhiều bất cập, hiệu lực,
hiệu quả quản lý còn thấp. Cải cách hành chính chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu
đề ra, tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn nghiêm trọng. Vì vậy cần phải đẩy
mạnh cải cách hành chính đảm bảo đơn giản, gọn nhẹ, công khai, minh
bạch. Thủ tục hành chính phải được thể chế hoá để nghiêm minh, tránh tuỳ tiện
trong thực hiện, trước mắt cần tập trung cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh,
thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục vay vốn tín dụng… Đẩy mạnh cải cách hành chính
trong hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, xoá bỏ các thủ tục rườm rà, tạo môi
trường thuận lợi và thông thoáng cho các hoạt động này theo hướng thị trường,
phù hợp với các cam kết của WTO nhưng vẫn giữ được sự lành mạnh cho nền
kinh tế, đảm bảo lợi ích quốc gia. Đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách thủ tục
hành chính trong lĩnh vực đất đai, loại bỏ những thủ tục gây cản trở việc thực
hiện các quyền của người sử dụng đất, nhất là các thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại các đô thị và các thủ tục giao đất, thuê đất. Đẩy mạnh
việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật đất đai, thường xuyên phổ biến những quy
định mới của Nhà nước đối với người dân về lĩnh vực này.
Bốn
là, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực
quản lý kinh tế của Nhà nước đối với nền KTTT định hướng XHCN.
Một
trong những điểm mới mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền KTTT định hướng XHCN
Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng
thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"[2]. Như vậy,
Đại hội XII đã xác định rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển nền KTTT.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của
Đảng về phát triển nền KTTT cần bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa kinh tế với
chính trị; nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế
xã hội. Tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa, tổ chức triển khai và tăng cường
kiểm tra giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, luật pháp Nhà nước trong phát triển KTTT.
Cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng,
cần tiếp tục tăng cường hiệu lực
quản lý kinh tế của Nhà nước đối với nền KTTT định hướng XHCN. Theo đó, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường. Nhà nước quản
lý, điều hành nền kinh tế, nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,
bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết khác, nhưng trên
cơ sở tôn trọng và vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành
của KTTT; Nhà nước tập trung duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng phát
triển, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, vừa không phó
mặc cho thị trường, vừa không tùy tiện can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị
trường, không lẫn lộn chức năng quản lý kinh tế nhà nước với chức năng kinh
doanh của doanh nghiệp./.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét