Ngày
07-11-1917, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga đứng đầu là V.I. Lênin, giai
cấp công nhân và nhân dân lao động đã nhất loạt khởi nghĩa, lật đổ chính quyền
của giai cấp tư sản và phản cách mạng, lập nên Nhà nước Xô-viết. Độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội mà Cách mạng Tháng Mười mở ra đã làm thay đổi cục diện thế
giới. Đó là sự thể nghiệm thắng lợi chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn, để lại
những bài học kinh nghiệm vô giá cho các quốc gia, dân tộc trong cuộc đấu tranh
cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), chỉ ra
sức sáng tạo của đông đảo quần chúng nhân dân trong sự nghiệp kiến tạo một xã
hội mới chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Từ một nước Nga phát triển trung
bình dưới thời Sa hoàng, đất nước Nga Xô-viết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, y
tế, giáo dục…; là lực lượng chủ yếu đánh tan phát-xít Đức trong Chiến tranh
thế giới thứ hai, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát-xít.
Trong một thời kỳ dài của lịch sử ở thế kỷ 20, Liên Xô đã trở thành một cường
quốc thế giới, là trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở đường cho Chủ nghĩa Mác -
Lênin thâm nhập vào tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Trong thế kỷ
20, đã có rất nhiều nước ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh vùng lên đấu
tranh đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, phá vỡ từng mảng
lớn hệ thống thuộc địa của chúng và giành được tự do, độc lập, đưa nhân dân lên
địa vị làm chủ xã hội. Nhiều quốc gia, dân tộc đã lựa chọn con đường đi lên
CNXH.
Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cách mạng ở mỗi nước,
trong đó có Việt Nam, trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng
thế giới. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc Việt Nam cũng chính từ bản Luận cương của V.I.Lênin “Về vấn đề dân tộc
và dân tộc thuộc địa”.
Ngày
nay, trước những
biến động phức tạp của thế giới, chủ nghĩa xã hội đang gặp phải những thách thức,
khó khăn, chủ nghĩa xã hội ở Liên-Xô và nhiều nước Đông Âu bị tan rã, các thế lực
thù địch, phản động với đủ mọi thủ đoạn, âm mưu thâm độc đang tìm mọi cách chống
phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn
kiên định, vững vàng trên con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn vượt qua mọi khó khăn, thách
thức, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập
quốc tế, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng,
vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Có được sự kiên định, vững
vàng đó, một trong những nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là chúng
ta đã làm tốt công tác giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Công
tác giáo dục lý luận nói chung, đào tạo, nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh nói riêng đóng vai trò to lớn trong đời sống xã hội, góp phần vào
quá trình ổn định xã hội, đồng thuận về tư tưởng, đấu tranh chống các quan điểm
sai trái, bảo vệ chế độ, tham mưu, hiến kế cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch
định đường lối phát triển đất nước, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đáng khích lệ, phải thừa
nhận một cách thẳng thắn rằng công tác giáo dục lý luận còn nhiều bất cập, chất
lượng giảng dạy và học tập các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trong các học viện, trường đại học, cao đẳng đang có những mâu thuẫn và bất cập trong nội dung, chương trình, giáo trình,
cũng như đội ngũ giảng viên các môn lý luận Mác - Lênin và đang ngày càng trở
nên gay gắt. Đặc biệt là từ sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết
định số 52/2008/QĐ - BGDĐT về việc ban hành chương trình các môn lý luận chính
trị trình độ đại học, cao đảng dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành
Mác-Lênin. Theo quyết định này, chương trình lý luận chính trị trình độ đại
học, cao đẳng dùng cho sinh viên không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh gồm 3 môn: Môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, môn tư
tưởng Hồ Chí Minh và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì
vậy, nội dung, chương trình giảng
dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở lên không đồng bộ,
ở một số môn học còn thiếu tính khoa học và yếu về chất lượng. Cụ thể là việc
“ghép” ba môn học trước đây thành một môn không chỉ tạo ra sự hiểu lầm về
việc xóa bỏ một số môn khoa học (Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội
khoa học) mà còn tạo ra sự hoài nghi về nền tảng tư tưởng của Đảng và trên thực
tế trong hệ thống giáo dục quốc dân một số môn này dần bị xóa bỏ. Việc phân
công giảng viên được đào tạo từng chuyên ngành trong 3 môn trước đây phải đảm
nhiệm dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” làm cho chất
lượng bài giảng giảm sút, người giảng e ngại, không tự tin. Hơn nữa, “Việc chuyển
phần lớn nội dung lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
sang môn “Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam” đã làm cho môn Chủ
nghĩa xã hội khoa học không gắn được với thực tiễn, không còn điều kiện phát
triển, gây ra tư tưởng nghi ngờ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… Phân chia
các môn học theo kiểu tách việc học lý luận thuần túy (môn học “Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” và môn “Tư tưởng Hồ Chí Minh”) với biểu hiện
thực tiễn của nó (môn “Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam”) làm cho
sinh viên không thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn; vừa
tạo cảm giác về tính giáo điều, kinh viện của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa không
thấy được cơ sở lý luận của đường lối cách mạng của Đảng ta. Bên cạnh đó là mâu
thuẫn giữa tính mở, tính sáng tạo không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin và một
số biểu hiện của tính “khép kín” và công thức hóa một cách máy móc nội dung của
chủ nghĩa Mác - Lênin trong giáo trình. Giáo trình đang sử dụng còn mang nặng
tính giáo huấn, thiếu tính đối thoại, gợi mở, xuất phát từ khối lượng môn học
và phương pháp tiếp cận môn học. Sự “chật chội” về khối lượng kiến thức cần giảng
dạy khiến cho sinh viên không có cơ hội mở rộng kiến thức, tự nghiên cứu, mà chỉ
việc nghe, ghi, học thuộc vài nội dung trọng điểm và trả bài, vì thế khả năng đối
thoại, tranh luận hầu như bị triệt tiêu, chỉ còn khả năng tiếp nhận thông tin một
chiều.
Vì vậy, đổi mới
nội dung, chương trình đào tạo hiện nay là vấn đề cần thiết. Theo đó, việc đổi
mới nội dung, chương trình cần theo hướng cập nhật, hiện đại, đảm bảo thống nhất
tính khoa học và định hướng chính trị, mang trên mình hơi thở và những thông điệp
của thời đại, của đất nước. Đồng thời, cần phải vượt qua cách tiếp cận đã từng
tồn tại từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay mà không còn phù hợp nữa, trở
thành sức nặng của “quả núi” truyền thống đối với những mối quan tâm hiện tại. Trong
đó, điển hình nhất là cách tiếp cận về những vấn đề của lịch sử tư tưởng, vốn
quá nặng về sự phân tuyến cứng nhắc, không chú trọng cách tiếp cận giá trị mà
C. Mác từng nêu ra[1].
Cùng với việc xem di sản của quá khứ từ cách tiếp cận giá trị, trong bài viết “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Pônapác”
C. Mác từng lưu ý: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả
núi lên đầu óc những người đang sống”[2]. Thái độ có văn hóa đối với
quá khứ đòi hỏi thực hiện sự “lọc bỏ” biện chứng các yếu tố của nó để tiếp cận
một cách thành công những vấn đề mới của thời đại mà không làm mất đi nguồn cội.
[1]C.
Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 1,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 156 - 157.
[2]
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 145


0 nhận xét:
Đăng nhận xét