1. VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM:
Tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cùng với những hình ảnh ghi lại
tình cảm của toàn dân khắp bốn phương, bản Di chúc của Bác Hồ kính yêu được
công bố.
Theo
đó, năm 1965, Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết Bản Di chúc đầu tiên gồm 4 trang, do tự tay Người đánh máy ở
cuối trang đề ngày 15-5-1965. Bản Di chúc Người viết năm 1965 là bản duy nhất
hoàn chỉnh, dưới có chữ ký của Người và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng
chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ.
Năm
1968 Người viết bổ sung
thêm một số đoạn gồm 6 trang viết tay. Ngày 10-5-1969 Người viết lại toàn bộ
phần mở đầu Di chúc gồm một trang viết tay (những năm 1966, 1967 không có bản
viết riêng).
Bản
Di chúc công bố năm 1969
chủ yếu dựa vào bản Người viết năm 1965 (trong đó đoạn mở đầu là bản viết năm
1969, đoạn về việc riêng là phần đầu bản viết năm 1968).
Đến
năm 1989, Bộ Chính trị
cho phép công bố các Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Căn cứ theo tài liệu công bố của Bộ
Chính trị (trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12) các Bản thảo Di chúc
được sắp xếp theo thứ tự thời gian Người viết, các bản bút tích được in trước,
sau đó các bản đánh máy và bản in được in tiếp sau đó. Cuối cùng là bản Di chúc
công bố chính thức năm 1969
2. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM:
2. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM:
Đến năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự cảm nhận được sức khỏe của Người
giảm sút so với những năm trước đó. Người cho rằng, ở tuổi 75 Người thuộc lớp
người “xưa nay hiếm”. Tuy cảm thấy “tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe
mạnh”, nhưng Người dự báo “Ai dám biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ
cách mạng được mấy năm tháng nữa”. Rõ ràng Hồ Chí Minh đã dự cảm được thời khắc
quan trọng của thời gian còn lại ở cuối cuộc đời mình. Từ dự cảm đó, Người
viết: “Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi.
Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác,
thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”.
Vì vậy, Người đã chủ động viết Di
chúc, để lại tình thương yêu và những lời căn dặn tâm huyết cho nhân dân ta,
cho Đảng và bạn bè gần xa. Tuy sức khỏe giảm sút, nhưng ở Chủ tịch Hồ Chí Minh
vẫn nồng cháy một tình yêu lớn và tinh thần trách nhiệm cao với đồng chí, đồng
bào, toàn dân tộc, với cách mạng Việt Nam và với cách mạng thế giới.
3. NỘI DUNG CHÍNH:
Phần đầu: Về sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định giải
phóng miền Nam
và qua đó, giải phóng hoàn toàn và thống nhất đất nước như một tất yếu, dù phải
kéo dài, đặc biệt ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Người đã nói: "Thắng
giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay". Sự thật đã diễn ra như
Người đoán. Bác mất năm 1969, sáu năm sau, dân tộc Việt Nam giành đại
thắng tháng 4/1975.
Phần thứ hai: Nói về Đảng, về Đoàn viên và thanh niên. Về Nhân dân lao động, cuộc kháng chiến
chống Mỹ, về phong trào cộng sản thế giới, cuối
cùng là về việc riêng.
Trước
hết nói về Đảng: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục
vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã
đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác.
Đoàn
kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ
Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong
Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và
phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất
của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng
ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân.
Như chúng ta đã biết, từ những ngày đầu mới thành lập cho
đến nay, Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác-Lênin,
gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong mỗi thời kỳ
cụ thể của Cách mạng.
Bác Hồ chính là nhà chiến lược và sách lược tài tình, nhà
tổ chức lực lượng thiên tài, nhà cổ động chính trị vĩ đại, người có công rèn
luyện, giáo dục bao lớp cán bộ ưu tú của Đảng, Người đã đưa chủ nghĩa Mác-Lênin
vào Việt Nam, Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
trong những điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Thực hiện Di chúc của Người, Đảng ta luôn khẳng định chủ
nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ một Đảng Cộng sản cầm
quyền, sau Lênin, đã nhấn mạnh việc Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền cùng
những lo lắng, răn đe. Không phải chỉ trong Di chúc, mà hầu hết những tác phẩm
của Hồ Chí Minh từ năm 1945, khi Đảng Cộng sản bắt đầu cầm quyền sau Cách mạng
tháng Tám, ngay sự cầm quyền ấy chưa hoàn toàn trong phạm vi cả nước, vừa xây
dựng chính quyền vừa kháng chiến, Người đã luôn luôn nhắc đến việc chính quyền
do Đảng Cộng sản phải là chính quyền vì dân, do dân, gắn bó với dân, trung
thành với dân, người đầy tớ trung thành của dân. Bức thư đầu tiên Người gửi các
đồng chí Bắc Bộ năm 1947, khi kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu vài tháng và
khi mà các quốc gia xã hội chủ nghĩa chưa ai cảnh giác con đường hiểm nguy của
Đảng Cộng sản cầm quyền mà thoát ly nguyên lý cộng sản cơ bản - tức phục vụ
dân, lấy dân làm gốc - thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo động với ý thức và lời
lẽ vừa thiết tha vừa nghiêm khắc, lấy sự việc ngay trong đời sống hằng ngày.
Cho nên, bài học lớn nhất mà chúng ta rút ra từ Di chúc của Người chính là phần
cốt lõi này.
Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, đoàn kết,
gắn bó với nhân dân, đại diện cho quyền lợi của giai cấp và của dân tộc, được
nhân dân tin yêu, đùm bọc, ủng hộ, giúp đỡ. Điều này làm chúng ta càng thấm
thía lời cǎn dặn của Bác trước lúc đi xa: "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ
phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập
đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân hǎng hái đấu tranh
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác" và "Các đồng chí từ Trung ương
đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của
mắt mình. Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh
tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết
và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau..."
Muốn có được sự đoàn kết nhất
trí đó, như Bác đã nói là ngay trong Đảng cần phải thực hành dân chủ rộng rãi,
thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Là một người theo chủ
nghĩa cộng sản, là người phương Đông đồng thời cũng là người con của đất Việt,
lịch sử hàng ngàn năm đã đặt cho trí tuệ của Người sự suy nghĩ có chiều sâu,
bao quát bởi bao nhiêu triều đại ngả nghiêng khi không hiểu lời của Nguyễn
Trãi: Dân nâng thuyền và dân có thể lật thuyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần
lời dạy của người xưa: Tu thân, tề gia, trị quốc. Đảng Cộng sản cầm quyền mà không
coi trọng tu thân thì khó tề gia, càng khó trị quốc. Đảng lãnh đạo gồm năng lực
tiên phong và đạo đức tiên phong. Bài học này đâu cũng có, lúc nào cũng có.
Đảng không gương mẫu, nặng tư lợi, nặng chức quyền thì Đảng chỉ còn là một hàng
hội. Đảng viên háo danh, tự ca ngợi mình mà tham lam, lợi dụng chức quyền, dung
túng cho vợ con thân thuộc phạm các tội lừa đảo, ăn hối lộ, buôn lậu... tức vi
phạm pháp luật và đạo đức xã hội thì còn tệ hơn một tội phạm thường dân. Tiên
phong là làm gương, lãnh đạo là dẫn đường - không làm gương thì chẳng thể dẫn
đường đúng.
Chúng ta luôn ghi nhớ rằng, tư cách,
phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mọi công dân không phân
biệt bất cứ ai mà Bác thường xuyên căn dặn, nhắc nhở là cần kiệm, liêm chính,
chí công, vô tư.
Theo Bác Hồ:
Người có
nhân là người có tấm lòng nhân hậu, tình thương yêu, giúp đỡ
đồng bào, đồng chí. Nhân là tâm và tâm là nhân.
Người có
nghĩa là người có chí khí, lòng dạ ngay thẳng, không có tư tâm, tà tâm,
không lắt léo, không uốn công cuộc đời, không luồn cúi, xu nịnh, xu thời. Trọng
nghĩa là đức tính của con người.
Người có trí là người có đầu
óc sáng suốt, trong sạch, biết xem người, biết xét việc, biết nhân tình thế
thái mà liệu bề ứng xử.
Người có
dũng là người dũng cảm, gan góc, có gan bảo vệ lẽ phải, có gan
đấu tranh với những việc làm sai trái, không sợ khó, không sợ khổ, có gan chịu
đựng để mưu cầu việc lớn.
Người có
liêm là người không tham địa vị, tiền tài, sự quyến rũ mềm
yếu, quan minh chính đại, sống cuộc đời liêm khiết, tử tế, đàng hoàng.
Cần là cần cù, cần
mẫn trong công việc, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương, lao động vì lợi
ích chung và lợi ích riêng mình.
Kiệm là tiết kiệm,
không xa hoa lãng phí, không tiêu xài bừa bãi, không lấy của công làm của
riêng; tiết kiệm nhưng không bủn xỉn, cái gì đáng tiêu dù phải mất số tiền lớn
cũng phải tiêu, cái gì không đáng tiêu dù chỉ là một đồng cũng không được tiêu.
Bác căn dặn cho cán bộ, đảng viên một
luận điểm quan trọng như sau: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết
lên trán chữ cộng sản mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người
có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người
ta bắt chước”, “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không?
Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới bảo người ta
trong sạch, siêng năng được”... Bác Hồ có nhắc nhở rằng trong học tập,
lao động, công tác cũng như trong cuộc sống đời thường của từng người ở xã hội
ta vào thời kỳ cách mạng nào cũng thế, nếu sự bất liêm, bất chính, lãng phí,
tham ô, lười biếng, vô trách nhiệm, thu vén cá nhân, ích kỷ vì lợi ta hại
người… còn lẩn khuất đâu đó bằng sự dối trá với chính mình, với tập thể và cộng
đồng thì đó là “kẻ thù nội xâm” nguy hiểm khôn lường.
Như Bác đã dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải
thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và
kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương. Làm gương về cả ba mặt: Tinh
thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm
được và đã thành công. Muốn làm được ta phải: quyết tâm, trí tâm và đồng tâm.
Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất cả các đồng chí
phải thành công”.
Mục đích xây dựng một xã hội đạo đức, dân chủ, công bằng,
văn minh, tiến bộ là lý tưởng sống của Hồ Chí Minh. Người lo sợ về một xã hội
vô đạo đức, lo sợ cho một đội ngũ cán bộ vô đạo đức, thoái hóa, biến chất, vì
vộ đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai họa mà chính Người đã được chứng kiến nhiều
nơi trên thế giới. Vì vậy, vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức con người là một vấn
đề mà Người suốt đời quan tâm.
Tiếp theo trong di chúc, mối quan tâm thứ
hai sau khi nói về Đảng, là giới trẻ, trong di chúc Bác căn dặn:
Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng
hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo
giáo dục đạo đức cách mạng
cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Người chỉ ra rằng muốn giáo dục cộng sản
cho đoàn viên thanh niên phải gắn liền việc học tập, rèn luyện của họ với cuộc
đấu tranh chung của xã hội. Người nói: "Đoàn thanh niên cộng sản chỉ xứng đáng
với danh hiệu của nó là đoàn thể của thế hệ cộng sản trẻ tuổi, nếu biết gắn
từng bước học tập, giáo dục và rèn luyện của mình với việc tham gia cuộc đấu
tranh chung của những người lao động chống lại bọn bóc lột".
Cũng với quan điểm ấy, Bác Hồ đã dạy: "Giáo dục thanh niên không thể tách
rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội".
Trong suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành rất
nhiều tình cảm lớn lao cho thế hệ trẻ, thế hệ mà Người khẳng định sẽ là người
chủ tương lai, là rường cột của nước nhà. Điều đó thể hiện rất rõ qua các cuộc
gặp gỡ và qua nhiều bài viết của Người dành cho thế hệ trẻ (theo Người, thế hệ
trẻ bao gồm: thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, trong đó thanh niên là lực
lượng quan trọng nhất), đồng thời chính Người tổ chức huấn luyện, lãnh đạo và
rèn luyện phát triển lực lượng thanh niên cách mạng Việt Nam.
Ngay từ thời niên thiếu, được trực tiếp chứng kiến các
phong trào yêu nước của nhân dân dân ta đầu thế kỷ XX như: phong trào Đông Du,
phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế ở
Trung Kỳ… Người đã thấy rõ sự đóng góp của tuổi trẻ Việt Nam trong sự
trường tồn và phát triển bền vững của dân tộc. Họ là lực lượng tham gia đông
đảo và nhiệt tình nhất, hùng hậu nhất, dũng cảm nhất trong các cuộc chống xâm
lăng, là những con người có lý tưởng, giàu đức hy sinh, sẵn sàng xả thân và trở
thành một lực lượng chủ yếu của cách mạng.
Tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nhận ra rằng
cách mạng muốn thành công, trước hết phải tập hợp lực lượng cách mạng, làm cho
lực lượng này giác ngộ cách mạng, giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó vai
trò của lực lượng thanh niên được Người khẳng định là rất quan trọng. Tháng
6/1925, Người thành lập Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí hội, qui tụ tất cả những thanh niên Việt Nam yêu nước
đầy nhiệt huyết vào trong một tổ chức thống nhất. Từ đây, những hoạt động của
Hội chính là nhân tố quan trọng và ảnh hưởng đến việc ra đời các tổ chức cộng
sản và việc thành lập Đảng sau này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ ra khả năng cách
mạng to lớn của tuổi trẻ trong cách mạng mà Người còn chỉ ra tiềm năng to lớn
của tuổi trẻ trong công cuộc kiến thiết xây dựng nước nhà. Trong Thư gửi các em
học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa,
tháng 9/1945, Người gửi gắm niềm tin tưởng của mình vào thế hệ trẻ:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Năm 1947, Ngư khẳng định: “Thanh
niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy,
mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên”.
Hồ Chí Minh xem xét thanh niên một cách toàn diện, thấy
rõ vị trí, vai trò của thanh niên: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng
cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh
niên tương lai”, vì vậy, Người yêu cầu, đòi hỏi thanh niên phải tự giác
rèn luyện, không ngừng học tập, xung phong gương mẫu trong công việc. Gắn yêu
cầu đặt ra đối với thanh niên, hiểu rõ vị trí, vai trò to lớn của thanh niên,
Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục cho thanh niên và chỉ ra tầm quan
trọng của việc giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong mọi
thời kỳ cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cho Đảng
đối với công tác giáo dục thanh niên và xem đây là trách nhiệm của Đảng, các cơ
quan giáo dục, đến các đoàn thể quần chúng: “Đoàn viên, thanh niên ta nói
chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí
tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Theo Người, cách mạng là sự nghiệp lâu dài khó khăn và là
trách nhiệm của nhiều thế hệ. Vì vậy, việc bàn giao thế hệ không chỉ là trao
lại những gì đã có mà điều quan trọng và khó khăn hơn nhiều là chuẩn bị và
trang bị cho thế hệ sau những điều cần thiết, định hướng cho thanh niên những
công việc phải làm để họ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng.
Chính vì vậy, vấn đề quan tâm, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ chính là thực hiện
theo quy luật khách quan nhằm đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước không ngừng
phát triển.
Vấn đề quan tâm hàng đầu của bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ. Người căn dặn
thanh niên phải: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, yêu
khoa học và yêu kỷ luật”.
Việc giáo dục, bồi dưỡng cho một thế hệ là công việc hết
sức công phu và bền bỉ, vì vậy, Người quan niệm việc giáo dục, đào tạo và rèn
luyện cho thế hệ trẻ là sự nghiệp “trồng người” và Người nêu tư tưởng
chiến lược: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”.
Công tác giáo dục phải tạo nên một thế hệ vừa giỏi chuyên môn, có trình độ cao,
phù hợp với sự phát triển của xã hội; đồng thời phải có đạo đức cách mạng, phải
trở thành là lực lượng “vừa hồng, vừa
chuyên”.
Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn
thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân”, và “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần
đạo đức cách mạng hay là không”.
Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ phải “vừa hồng vừa chuyên”. “Hồng” là phẩm chất
đạo đức cách mạng. Người răn dạy cán bộ phải “tận trung với nước, tận hiếu
với dân” thì mới xứng đáng “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ
trung thành của nhân dân”.
Đặt chữ “Đức”
lên hàng đầu, nhưng Hồ Chí Minh vẫn luôn coi trọng cái “Tài”. Người nhìn nhận
“Đức” và “Tài” trong mối quan hệ biện chứng, như hai mặt không thể tách rời
trong một nhân cách hoàn thiện: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”
nhưng “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Có “Tài” mà
thiếu cái “Đức”, thì “Tài” đó không có ý nghĩa. Không những thế, cái “Tài”
thiếu “Đức” còn có thể gây hại cho chính bản thân và cả cộng đồng.
Cái “Đức” làm
người ta thanh thản. Cái “Tài” làm con người nở hoa. Thiếu “Tài” con người vẫn
còn có thể sống trong an ủi. Thiếu “Đức”, cuộc đời luôn là những bi kịch.
Người có “Đức”
tức là người luôn ý thức được việc hoàn thiện mình. Điều ấy cũng có nghĩa, cái
“Đức” trở thành động lực để hoàn thiện cái “Tài”. Vì thế, bắt đầu việc học làm
người từ cái “Đức”, sẽ nhận được sự hoàn thiện. Bắt đầu chỉ từ cái “Tài”, số
phận sẽ ẩn chứa những bi kịch khó lường.
Đặt “Đức” ở vị
trí gốc rễ luôn đúng với mọi thời đại. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi
những yếu tố tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang hằng ngày tác động vào
suy nghĩ, nhận thức của từng cá nhân trong xã hội.
Trong một xã
hội ngày càng đòi hỏi nhiều tri thức như hiện nay, chữ “Tài” đang chiếm một vị
trí hết sức quan trọng. Nhiều con người tài năng sẽ góp phần dựng xây đất nước
Việt Nam
giàu đẹp. Thế nhưng, đôi khi vì quá chú trọng cái “Tài”, có một số người đã
thiếu tu dưỡng chữ “Đức”. Từ ấy đã nảy sinh ra những kẻ cơ hội chủ nghĩa, những
kẻ quyết tâm leo lên con đường quan chức bằng mọi giá để rồi quay lại nhũng
nhiễu nhân dân, tham ô tài sản nhà nước.
Tham nhũng đã
bị Đảng ta coi là một trong những “nguy cơ” lớn. Mà bản chất của tham nhũng
chính là đạo đức xuống cấp. Do đó, đấu tranh chống tham nhũng cũng chính là
việc đấu tranh chống lại tệ sùng bái cá nhân chủ nghĩa, chống lại nạn suy thoái
đạo đức.
Rõ ràng, các tiêu chuẩn mà Hồ Chí Minh nêu ra về đức -
tài của người cán bộ cách mạng là yêu cầu cụ thể đối với mỗi người cán bộ, chứ
không phải chỉ là điều mong muốn, là lời nói suông. Đức – Tài là hai nhân tố
làm cho cán bộ nói riêng, con người nói chung trở lên hữu ích đối với xã hội,
không thể tách rời cũng không thể tuyệt đối hoá mặt này mà phủ nhận hay xem nhẹ
mặt kia.
Tóm lại, những quan điểm của Hồ Chí Minh về “vừa
Hồng vừa Chuyên”, Đức - Tài
của người cán bộ cách mạng cho đến tận hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và sức
sống trong thực tiễn. Nó càng có ý nghĩa trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Chúng ta đang có nhiều tấm gương đảng
viên, đoàn viên và cán bộ được dân tin, dân yêu, được như vậy là do các đồng
chí đã tự mình rèn luyện và thực hiện tốt lẽ sống mình vì mọi người, trong đó
lời nói luôn đi đôi với việc làm, lấy việc mình làm để cổ vũ người khác.
Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ
Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này,
tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu
hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức
điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân
Đây là phần di chúc ngắn nhất trong bản
di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Toàn
bản di chúc là để lại cho “đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và
bầu bạn khắp nơi”
Ở phần này chúng ta có thể thấy rằng nếu
“Phòng
khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác…”
thì Bác Hồ “sẽ không có điều gì phải hối hận…” tuy nhiên Người chỉ tiếc một điều đó là: “chỉ
tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.” Qua
đây thể hiện tấm lòng hết mình tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc của
Người.
Bản thân Bác suốt đời là một tấm gương
trong sáng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Người nói: "Cả đời tôi chỉ
có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân
dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha
sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được
chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh vác việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm, ngày,
nhẫn nhục, cố gắng vì mục đích đó...".
Hồ Chí Minh yêu cầu mọi chủ trương,
chính sách, mọi quy định đều phải thật sự vì dân. Cán bộ, nhân viên phải thật
sự gương mẫu; Phải nêu cao tinh thần "Cần, kiệm, liêm, chính". Ngay
trong buổi đầu xây dựng Nhà nước cách mạng non trẻ, Người đã xác định mục tiêu
hoạt động của Nhà nước là:
"1. Làm cho dân có ăn
2. Làm cho dân có mặc
3. Làm cho dân có chỗ ở
4. Làm cho dân có học hành"
Người giải thích: "Chúng ta đã hy sinh phấn
đấu, để giành độc lập... chúng ta tranh được độc lập rồi mà dân cứ chết đói,
chết rét, thì tự do độc lập, cũng không làm gì".
Người khuyên cán bộ phải cần, kiệm,
liêm, chính, phải thật sự là người đầy tớ của nhân dân. Bác đã làm gương
trước, sống giản dị, thanh bạch, khiêm tốn để làm đúng điều người dạy: “Cán bộ
Đảng, chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân,
phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính”.
Vào dịp ngày sinh của mình, Người thường
tìm cách vắng nhà để tránh việc mọi người đến chúc thọ, tặng quà. Bác làm việc
này để thực hiện điều Người dặn các cơ quan, các địa phương là đến ngày sinh
của Người không tổ chức kỷ niệm chúc thọ để tránh lãng phí thời giờ, tiền bạc.
Khi đi vào cõi trường sinh, Người dặn không tổ chức điếu phúng linh đình để
tiết kiệm tiền của nhân dân...
Bác căn dặn cán bộ, đảng viên sống
trong sạch, không cậy quyền thế mà đục khoét, nhất là những người có
chức, có quyền phải gương mẫu. Đồng bào Thái Bình gửi biếu Bác 2 chai nước
mắm, Bác san sẻ quà đó với người khác cùng hưởng: “Hôm chủ nhật đồng bào Thái
Bình có cho tôi 2 chai nước mắm làm bằng tôm. “Vật khinh tình trọng”, từ chối
không được, tôi phải nhận lấy cho bằng lòng anh em. Nay tôi xin gửi biếu Cụ 1
chai (cụ Bùi Bằng Đoàn) và xin chúc Cụ mạnh khỏe”.
Trong dịp Bác sang thăm Liên Xô, ủy ban
Trung ương Đảng cộng sản Xô Viết gửi cho Bác 4000 rúp, đồng chí thư ký của Bác
1000 rúp. Trước khi rời Matxcova , Bác đã gửi lại Ủy ban Trung ương Đảng Xô
Viết 5000 rúp đó...
Nói đi đôi với làm, những việc Bác làm
đều là “mực thước” cho mỗi chúng ta, đó chính là lẽ sống “Thật” và “Thật sự”.
Vì “Thật” đối lập với giả, với dối. “Thật sự” đối lập với qua loa, nửa vời. Đó
là “Thuốc hay đắng miệng chữa được bệnh; lời thẳng trái tai lợi cho việc làm”
(Khổng Tử) - là thứ vũ khí hữu hiệu để chống lại những kẻ gian giảo, xảo quyệt
nói không đúng với làm, nói một đằng làm một nẻo, dùng lời nói để giấu giiếm
tội lỗi, làm trắng đen lẫn lộn, chính tà bất phân, như Bác đã chỉ cho chúng ta:
“Có những kẻ miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật
chất dỗ dành mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến tổ quốc, nhân dân”.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích
của cách mạng, của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên
quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng
tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải
đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền
làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình
độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.
Ðó là một cách thiết thực để học
tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ðó cũng là một việc làm cần thiết để giúp
tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp xây
dựng đất nước trong thời kỳ mới.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét